24.3.16

Selma Lagerlöf- Nghiệp

 

Trần Quốc Việt dịch


Chuyện xảy ra vào thời Chúa Giê su và Thánh Phê rô mới đến Thiên đường sau nhiều năm lang thang và chịu nhiều gian khổ đau thương trên trần thế.

Ta có thể tưởng Thánh Phê rô sung sướng xiết bao trước sự đổi đời này! Ta có thể hình dung cảnh ngồi trên Núi Thiên đường và nhìn ra khắp thế gian quá khác xa với cảnh đi lang thang hết nhà này sang nhà khác như kẻ ăn mày. Đi dạo trong vườn Thiên đường tuyệt đẹp cũng thật khác biết bao với đi rong ruổi khắp thế gian, mà chẳng biết dừng chân trú lại nơi nào vào đêm mưa bão hay lại phải tiếp tục đi trên đường trong bóng đêm giá lạnh. 

Ta tưởng sau cuộc hành trình như thế chắc hẳn ông sung sướng vô cùng khi được đặt chân đến nơi chốn hằng mơ ước. Chắc chắn trước đấy Thánh Phê rô không phải lúc nào cũng tin tưởng mọi sự rồi sẽ kết thúc tốt đẹp. Đôi khi ông không thể nào mà không cảm thấy rất nhiều hoài nghi và lo lắng, vì Thánh Phê rô đáng thương đã không thể nào hiểu nếu Chúa Giê su là chúa của cả thế gian thì tại sao họ lại phải trải qua muôn vàn gian khổ ở trần thế. 

Bây giờ, chẳng mơ ước nào có thể còn hành hạ ông nữa. Ta có thể vững tin ông lấy làm sung sướng trước sự giải thoát này. 

Giờ đây ông thực sự mới thấy tất cả những khổ đau ông và Chúa Giê su đã phải chịu đựng, hay cuộc sống rất thiếu thốn họ phải vui vẻ chấp nhận trước đây thảy đều chẳng đáng gì. 

Ngày xưa lúc họ rơi vào hoàn cảnh thê thảm đến mức Thánh Phê rô tưởng như ông không thể nào chịu đựng được nữa, Chúa Giê su đã đưa ông đến một dãy núi rất cao, và bắt đầu lên núi mà không bảo ông biết lên núi để làm gì. 

Họ đi lang thang ngang qua các thành phố dưới chân núi, và qua những lâu đài trên núi cao. Họ đi qua những trang trại và túp lều, và bỏ lại phía sau lưng cái hang cuối cùng của người tiều phu. 

Cuối cùng họ đến nơi núi đứng sững sững trần trụi, chẳng bóng cây hay lá cỏ nào, nơi một tu sĩ ẩn dật dựng cái chòi để ở và biết đâu để giúp cho lữ khách lỡ đường có nơi tá túc. 

Sau đó, họ đi băng qua những đồng tuyết, nơi những con sơn thử ngủ vùi, rồi đến nơi những vách băng lớn chất chồng lên nhau nằm chênh vênh bên sườn núi mà ngay cả sơn dương cũng rất khó vượt qua được. 

Ở đấy Chúa Giê su thấy một con chim nhỏ có ức đỏ nằm chết cóng trên tuyết, và Người liền nhặt chim lên và nhét chim vào ngực Người. Thánh Phê rô nhớ lại lúc đấy ông không biết phải chăng chim nhỏ ấy là thức ăn chiều của họ. 

Hai thầy trò đi lang thang rất lâu trên những khối băng trơn tuột, và Thánh Phê rô tưởng như ông càng lúc càng đi đến rất gần địa ngục, vì gió lạnh buốt kinh hồn và sương mù đen kịt liệm kín họ, và ông cố nhìn thật xa nhưng chẳng thấy bất kỳ sự sống nào. Tuy nhiên họ chỉ mới lên được lưng chừng núi. 

Rồi ông van Chúa Giê su hãy quay trở lại. 

“Chưa về được,” Chúa Giê su đáp, “vì thầy muốn chỉ cho con thấy điều này để con có can đảm mà chịu đựng mọi đau thương.” 

Rồi họ tiếp tục đi mãi qua sương mù và băng giá cho đến lúc họ không đi được nữa vì gặp một bức tường thành cao vô cùng tận chắn ngang trước mặt. 

“Bức tường này bao quanh núi,” Chúa Giê su nói, “và con không thể vào được bên trong dù ở bất kỳ chỗ nào. Không có bất kỳ sinh vật nào có thể nhìn vào được bên trong bức tường, vì thiên đường bắt đầu từ chính nơi đây và từ nơi đây lên đến đỉnh núi là nơi ở của những người chết được hưởng chân phúc.” 

Nhưng Thánh Phê rô không thể nào mà không lộ vẻ hoài nghi. 

“Ở trong ấy không có bóng tối và cũng chẳng có giá lạnh,” Chúa Giê su nói, “nhưng lúc nào cũng là mùa hè với ánh sáng rực rỡ của mặt trời và các vì sao.” 

Nhưng Thánh Phê rô cảm thấy không thể nào tin được điều này. 

Rồi Chúa Giê su lấy con chim Người mới nhặt được trên băng ra, nghiêng người ra phía sau, ném chim qua bức tường, để chim rơi xuống Thiên đường. 

Ngay lập tức sau đấy Thánh Phê rô nghe tiếng kêu ríu rít mừng rỡ, sung sướng. Ông nhận ra đúng tiếng hót của con chim sẽ ức đỏ, và cực kỳ kinh ngạc. 

Ông quay sang Chúa Giê su và nói: “Thầy và con hãy trở lại trần thế và chịu đựng tất cả những gì phải chịu đựng, vì bây giờ con nhận thấy thầy nói sự thật, và con đã thấy nơi mà Sự sống cuối cùng thắng được sự chết.” 

Thế rồi họ xuống núi và lại bắt đầu đi nay đây mai đó. 

Bao nhiêu năm trường trôi qua từ độ Thánh Phê rô thoáng thấy thiên đường; nhưng ông vẫn luôn luôn ao ước nơi chốn bên kia bức tường. Rồi cuối cùng ông đến được nơi ấy, và không còn phải nỗ lực và khao khát nữa. Bây giờ suốt ngày dài ông có thể uống thỏa thích hạnh phúc tuyệt vời từ những dòng suối bất tử. 

Nhưng Thánh Phê rô ở trên Thiên đường mới được hai tuần thì thiên thần đến gặp Chúa Giê su nơi Người ngự trên ngai, cúi đầu chào Người bảy lần, rồi báo cho Người biết Thánh Phê rô chắc phải sầu thảm lắm. Ông chẳng chịu ăn uống gì và mắt ông đỏ rực vì nhiều đêm mất ngủ. 

Nghe vậy Chúa Giê su liền đứng lên đi tìm Thánh Phê rô. 

Người tìm thấy ông ở một chỗ xa khuất, ở nơi ngoài cùng của Thiên đường, nơi ông nằm xuội ra trên mặt đất, tưởng chừng như chẳng còn sức để đứng lên, và ông xé quần áo của mình và rắc tro lên tóc. 

Khi Chúa Giê su thấy ông quá đau khổ, Người liền ngồi xuống đất bên cạnh ông, và nói chuyện với ông tựa như ngày xưa Người vẫn thường ngồi bên cạnh ông trò chuyện vào thuở họ đi nay đây mai đó khắp nơi trên trần thế khốn khổ này. 

“Thánh Phê rô ơi, điều gì khiến con đau khổ đến như thế?” Chúa Giê su hỏi. 

Nhưng Thánh Phê rô chẳng thể đáp lại vì ông đang quá đau khổ. 

“Điều gì khiến con đau khổ đến như thế?” Chúa Giê su hỏi lần nữa. 

Lúc Chúa Giê su nhắc lại câu hỏi, Thánh Phê rô tháo vương miện vàng ra khỏi đầu mình rồi ném nó xuống dưới chân Chúa Giê su như muốn nói ông sẽ không dự phần vào danh dự và vinh quang của Người nữa. 

Nhưng, tất nhiên, Chúa Giê su hiểu Thánh Phê rô đau khổ đến độ ông không biết mình làm gì. Người không lộ vẻ giận ông. 

“Con phải nói cho thầy biết điều gì khiến con âu sầu,” Người nói hết sức nhẹ nhàng như ngày xưa, giọng nói Người càng chan chứa thương yêu hơn nhiều. 

Nhưng đến đây Thánh Phê rô đứng phắt dậy; thế rồi Chúa Giê su nhận thức ông không chỉ quá đau khổ, mà còn rất phẫn nộ. Ông bước đến Chúa Giê su với đôi bàn tay nắm chặt lại và với ánh mắt giận dữ. 

“Bây giờ con không muốn phục vụ thầy nữa!” Thánh Phê rô nói. “Con cũng không muốn ở thêm một ngày nào nữa trên Thiên đường.” 

Chúa Giê su cố gắng làm cho ông bình tâm trở lại, như Người trước kia đã từng làm thế rất nhiều lần mỗi khi Thánh Phê rô nóng giận. 

“Thì con chắc chắn có thể ra đi, “Người nói, “nhưng trước tiên con hãy nói cho thầy biết điều gì khiến con không vừa ý.” 

“Con cho thầy biết con đã chờ đợi tự bao lâu phần thưởng tốt hơn như thế này khi cả hai thầy trò chúng ta chịu dựng đủ mọi thứ đau khổ ở dưới trần thế.” 

Chúa Giê su thấy lòng của Thánh Phê rô chất chứa đầy sân hận, nhưng Người chẳng giận ông. 

“Thầy bảo con tự do muốn đi đâu tùy ý,” Người đáp, “thầy chỉ mong sao con cho thầy biết điều gì khiến con khổ não.” 

Rồi, cuối cùng, Thánh Phê rô cho Chúa Giê su biết tại sao ông rất đau khổ. 

“Con có mẹ già,” ông thổ lộ, “mẹ con mất cách đây vài ngày.” 

“Bây giờ thầy biết tại sao con sầu não,” Chúa Giê su nói. “Con rất đau khổ vì mẹ con không được lên Thiên đường.” 

“Đúng như thế,” Thánh Phê rô nói xong bỗng cảm thấy đau khổ vô cùng liền than khóc thảm thiết. 

“Con nghĩ ít ra con cũng đã xứng đáng để cho mẹ con được lên đây chứ,” ông nói. 

Nhưng khi Chúa Giê su biết điều làm cho Thánh Phê rô đau đớn như thế, đến lượt Người cũng trở nên phiền muộn. Mẹ của Thánh Phê rô không phải là hạng người có thể lên được Nước Trời. Bà chỉ biết ky cóp tiền bạc chứ không bao giờ nghĩ đến điều gì khác, và bà chẳng bao giờ cho những người nghèo đến nhà bà nhờ vả dù chỉ một đồng xu hay một miếng bánh. Nhưng Chúa Giê su hiểu Thánh Phê rô không thể nào thấu hiểu được rằng mẹ ông là người quá tham lam và bủn xỉn nên không được hưởng chân phúc. 

“Thánh Phê rô này,” Người nói, “làm sao con biết chắc mẹ con sẽ cảm thấy vui vẻ khi ở đây với chúng ta?” 

“Đấy, bây giờ thầy lại nói như thế để không phải lắng nghe lời cầu nguyện của con,” Thánh Phê rô đáp. “Thử hỏi ai chẳng hạnh phúc khi ở trên Thiên đường?” 

“Những ai không vui với hạnh phúc của người khác thì không thể vui hưởng hạnh phúc ở đây,” Chúa Giê su đáp. 

“Như vậy ngoài mẹ con ra còn có những người khác cũng không nên ở đây,”Thánh Phê rô nói, và Chúa Giê su biết ông đang nghĩ về Người. 

Rồi Người chợt cảm thấy phiền muộn vì Thánh Phê rô đã đau khổ đến mức ông không còn biết mình nói năng gì. Người đứng một lát và mong Thánh Phê rô ăn năn, và hiểu mẹ ông không xứng đáng được lên Thiên đường, Nhưng lòng Thánh Phê rô vẫn không lay chuyển. 

Rồi Chúa Giê su gọi thiên thần đến và sai thiên thần bay xuống địa ngục để đưa mẹ của Thánh Phê rô lên Thiên đường. 

“Thầy hãy cho con thấy thiên thần đưa mẹ con lên đây bằng cách nào,” Thánh Phê rô nói. 

Chúa Giê su cầm tay Thánh Phê rô và dẫn ông đến vách núi cao dựng đứng tựa mà nghiêng về một bên. Và Người chỉ cho ông thấy ông chỉ cần cúi người ra vách đá chỉ một chút thôi là có thể nhìn thẳng xuống địa ngục. 

Khi Thánh Phê rô nhìn xuống, thoạt đầu ông không thấy gì giống như ông nhìn vào cái giếng sâu hun hút. Ông tưởng như vực thẳm vô cùng tận mở ra ngay dưới chân mình. 

Hình ảnh đầu tiên ông có thể nhận thấy lờ mờ là thiên thần đang bay xuống âm phủ. Thánh Phê rô thấy thiên thần bay rất nhanh xuống bóng tối dày dặc mờ mịt bên dưới mà không mảy may sợ hãi, chỉ vươn cánh ra một chút để không rơi xuống quá nhanh. 

Nhưng khi đôi mắt Thánh Phê rô đã hơi quen dần với bóng tối ông bắt đầu càng lúc càng thấy nhiều hơn, Trước tiên, ông thấy Thiên đường nằm trên dãy núi hình tròn bao quanh vực thẳm mênh mông, và đáy vực thẳm này là nơi ở của những âm hồn của những kẻ tội lỗi. Ông thấy thiên thần rơi, rơi hoài và rơi mãi mà vẫn chưa tới đáy vực. Ông chợt khiếp sợ vô cùng trước độ sâu khủng khiếp của vực thẳm. 

“Cầu mong thiên thần bay lên lại với mẹ con!” ông nói. 

Chúa Giê su chỉ nhìn ông với ánh mắt rất buồn. 

“Không có sức nặng nào nặng đến mức mà thiên thần của thầy không mang nổi.” Người nói. 

Sâu thăm thẳm dưới tận âm phủ nơi ánh sáng mặt trời không thể nào chiếu đến là nơi bóng tối ngự trị. Nhưng dường như thiên thần khi bay chắc mang theo ánh sáng bên mình nên nhờ đó Thánh Phê rô có thể thấy cảnh vật ở dưới đáy. 

Đó là sa mạc đá đen vô tận. Dưới đáy phủ kín toàn là những ngọn đá dựng đứng lởm chởm sắc nhọn. Giữa những ngọn đá này là những vũng nước đen lấp lánh. Không có một ngọn cỏ, không có một bóng cây, không có một dấu hiệu của sự sống. 

Nhưng hồn bị đọa đày lúc nhúc lổn nhổn khắp mọi nơi trên những ngọn đá sắc nhọn này. Họ bám trên đỉnh những vách đá dựng đứng mà họ đã trèo lên tới được ấy với hy vọng thoát ra được khỏi vực thẳm, nhưng khi họ thấy không còn chỗ nào để trèo tiếp lên được nữa, họ vẫn đu bám ở trên đấy, dù họ cực kỳ sợ hãi vì tuyệt vọng đau khổ. 

Thánh Phê rô thấy nhiều hồn ngồi hay nằm với hai cánh tay vươn ra trong niềm khao khát vô tận và mắt nhìn đăm đăm nhìn lên bên trên. Còn những hồn khác lấy hai tay che mặt lại như không muốn nhìn thấy cảnh ghê sợ tuyệt vọng chung quanh họ. Tất cả họ đều bất động; chẳng một ai đi lại. Nhiều hồn nằm hoàn toàn im lìm bất động trong những vũng nước, chẳng mảy may cố gắng đứng lên. 

Nhưng điều đáng sợ nhất là có hằng hà sa số những âm hồn bị sa đọa. Tưởng như dưới đáy vực thẳm chỉ toàn là thân với đầu chen chúc sát nhau. 

Thánh Phê rô chợt cảm thấy thêm mối lo sợ khác. 

“Thầy thấy đấy thiên thần không thể nào tìm ra mẹ con được.” Ông nói với Chúa Giê su. 

Chúa Giê su nhìn Thánh Phê rô vẫn với ánh mắt thật buồn như trước. Tất nhiên Người biết Thánh Phê rô không cần phải lo lắng cho thiên thần. 

Nhưng Thánh Phê rô thấy thiên thần dường như không thể nào tìm ra mẹ ông trong biển linh hồn bị đọa đày đông không kể xiết ấy. Thiên thần xoải cánh bay tới bay lui trên địa ngục để tìm mẹ ông. 

Bất ngờ một trong những hồn bị đày đọa đáng thương ấy chợt thoáng nhìn thấy thiên thần, ông ta liền nhảy lên và vươn hai tay về phía thiên thần và kêu to: 

“Hãy mang tôi đi với! Hãy mang tôi đi với!” 

Rồi bất ngờ cả biển hồn ấy sống lại. Tất cả hàng muôn ức triệu và hàng muôn ức triệu hồn bị đày đọa trong địa ngục tức thì cùng bừng tỉnh lại, và cùng giơ tay thật cao lên trên và đồng thanh kêu van thiên thần hãy đưa họ lên thiên đường chân phúc. 

Tiếng gào thét của tất cả các hồn từ đáy vực vang vút lên đến tận nơi Chúa Giê su và Thánh Phê rô đứng. Cả hai nghe mà thấy lòng mình đau như cắt. 

Thiên thần khẽ nghiêng qua nghiêng lại bên trên những hồn bị đọa đày; nhưng khi thiên thần bay tới bay lui tìm hồn, tất cả các hồn đều chạy ào như bị gió lốc cuốn theo sau thiên thần. 

Cuối cùng thiên thần chợt nhìn thấy hồn mình đang tìm. Thiên thần xếp cánh trên lưng lại và lao vút xuống như tia chớp. Thánh Phê rô bật ra tiếng reo vang sung sướng khi ông thấy thiên thần vòng tay quanh mẹ mình và nhắc bà lên. 

“Phúc thay cho ai đưa mẹ con lên với con thầy ơi!” ông nói. 

Chúa Giê su đặt nhẹ tay lên vai Thánh Phê rô như muốn khuyên ông biết đừng quá vội vui mừng. 

Nhưng Thánh Phê rô chực khóc vì quá sung sướng khi thấy hồn mẹ đang được cứu vớt. Ông hiểu giờ đây chẳng còn điều gì khác có thể chia lìa mẹ con. Hơn nữa niềm vui của ông càng tăng lên gấp bội khi ông thấy dù thiên thần nhắc mẹ ông lên rất nhanh nhưng một số hồn bị đọa đày vẫn bám được theo hồn mẹ ông mà sắp được cứu vớt, để họ cũng có thể tái sinh cùng với bà trên Thiên đường. 

Chắc có hơn chục hồn bám vào hồn mẹ già ông. Thấy thế Thánh Phê rô nghĩ đây quả là vinh hạnh rất lớn lao cho mẹ khi giúp đưa được nhiều chúng sanh đáng thương bất hạnh thoát ra khỏi đia ngục. 

Thiên thần cũng chẳng làm gì để ngăn cản những hồn này. Dường như hoàn toàn chẳng màng đến gánh nặng trên mình, thiên thần càng lúc càng bay bổng lên cao, và chuyển động hai cánh rất nhẹ nhàng tựa như mang con chim nhỏ đã chết lên trời. 

Nhưng rồi Thánh Phê rô thấy mẹ ông bắt đầu tìm cách thoát ra khỏi những hồn bị đọa đày đã bám vào bà. Bà nắm chặt tay họ để gỡ họ ra, thế rồi lần lượt từng hồn một rơi xuống lại địa ngục. 

Thánh Phê rô có thể nghe rõ tiếng họ khẩn cầu và van xin mẹ mình; nhưng bà già chẳng muốn bất kỳ ai chỉ ngoại trừ bà được cứu vớt. Bà càng lúc càng gỡ được nhiều hồn bám vào mình, và để họ rơi chìm xuống lại khổ đau. Khi họ rơi xuống, tiếng than van và nguyền rủa vang dậy khắp không gian. 

Rồi Thánh Phê rô gọi mẹ thật to để cầu khẩn mẹ hãy rủ lòng thương người, nhưng bà không chịu lắng nghe mà vẫn tiếp tục làm như vậy. 

Thánh Phê rô nhận thấy thiên thần khi mang càng nhẹ thì lại bay càng lúc càng chậm dần. Thánh Phê rô bỗng sợ hãi vô cùng đến độ chân đứng không vững nên phải quỳ xuống. 

Cuối cùng, chỉ còn một hồn bị đọa đày duy nhất vẫn bám cổ mẹ Thánh Phê rô. Hồn này là phụ nữ trẻ ôm cổ bà và van xin khóc lóc không ngừng vào tai bà để xin được bay cùng với bà lên Thiên đường hạnh phúc. 

Lúc này thiên thần đã mang họ đến gần sát Thiên đường đến độ Thánh Phê rô đã giơ tay ra sẵn để đón mẹ. Ông nghĩ thiên thần chỉ cần phải đập cánh thêm hai hay ba lần nữa là lên đến được đỉnh núi. 

Nhưng bất ngờ đôi cánh thiên thần hoàn toàn bất động, và sắc mặt thiên thần đổi sang màu đen như bóng đêm. 

Vì lúc này bà già đã vòng tay ra sau lưng và nắm lấy hai cánh tay của hồn phụ nữ trẻ đang ôm cổ bà, và rồi bà bấu và cấu xé mãi cho đến khi bà gỡ được hai bàn tay ôm cổ bà ra, để cuối cùng bà cũng thoát ra khỏi hồn cuối cùng đu bám theo mình. 

Khi hồn bị đọa đày ấy rơi xuống thiên thần như chẳng còn sức cất cánh trở lại cũng chìm xuống theo gần chục mét. 

Thiên thần nhìn bà già với ánh mắt rất buồn, rồi thả lỏng tay ôm quanh lưng bà ra, và thiên thần để cho bà rơi xuống như thể vì chỉ còn một mình bà thôi nên bà trở nên quá nặng đến mức thiên thần không thể nào mang nổi. 

Ngay sau đấy thiên thần đập cánh lần cuối rồi bay vút vào thiên đường. 

Nhưng Thánh Phê rô vẫn nằm ở nơi đấy thật lâu và khóc nức nở không thôi. Chúa Giê su đứng im lặng bên ông. 

“Thánh Phê rô này,” cuối cùng Chúa Giê su nói, “Thầy đã không bao giờ nghĩ con sẽ khóc như thế này sau khi con đã lên Thiên đường.” 

Lúc ấy người phục vụ già của Chúa Giê su ngẩng đầu lên đáp: 

“Thiên đường gì ở đây hở thầy, nơi con nghe bao tiếng than van của người thân yêu nhất và thấy muôn vàn khổ đau của đồng loại!” 

Mặt Chúa Giê su đượm vẻ buồn não vô cùng. 

“Thầy còn mong muốn gì hơn là tạo ra Thiên đường chỉ có ánh sáng và hạnh phúc cho tất cả mọi người?” Người nói. “Chẳng lẽ con không hiểu chính vì điều này mà thầy xuống dưới nhân gian để dạy con người hãy thương người như thương mình? Vì chừng nào họ không thương yêu nhau, thì dù ở trên trời hay ở dưới thế họ cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được nơi chốn nào để họ có thể tránh được mọi khổ đau.” 


Selma Lagerlöf (1858-1940) là nhà văn Thụy Điển. Bà là nhà văn nữ đầu tiên nhận Giải thưởng Nobel văn chương vào năm 1909. 

Nguồn: Từ tác phẩm Christ Legends của nhà văn Selma Lagerlöf, bản dịch tiếng Anh của Velma Swanston Howard, nhà xuất bản Henry Holt And Company, 1908, trang 203-219. Tựa đề tiếng Anh “Our Lord and Saint Peter”. Tựa đề tiếng Việt của người dịch. 

Toàn bộ tác phẩm Christ Legends qua bản dịch của Velma Swanston Howard được đưa lên mạng ở địa chỉ sau: